fbpx

Trầm kình – Lí Nhã Hiên

Tác giả: Lí Nhã Hiên

Biên dịch: Mr. Nguyễn Hoàng Quân

李雅軒:眼下99%練的不是真太極,缺乏太極拳味

Lý Nhã Hiên: Trước mắt, người luyện Thái cực quyền, 99% không phải luyện chân Thái cực, thiếu Thái cực quyền vị

Lý Nhã Hiên, Thái cực quyền nhất đại tông sư, ông ta luyện công vô cùng khắc khổ, mỗi động tác đều nghiên cứu kĩ lưỡng, tới hình thần kiêm bị. Kinh qua thiên chùy bách luyện, đến khi Dương lão sư mãn ý mới dừng, nên được Dương lão sư tán thưởng và quí trọng.

Đại sư Lý Nhã Hiên là cao đồ theo Dương Trừng Phủ 20 năm, từng nói: Trước mắt, người luyện Thái cực quyền, 99% không phải luyện chân Thái cực, thiếu Thái cực quyền vị. Theo Lý sư, biểu hiện tối trọng yếu của việc thiếu Thái cực quyền vị, là không luyện xuất trầm kình. Vậy trầm kình là gì? Trầm kình trong nội kình của Thái cực quyền có vị trí thế nào? Luyện trầm kình cần có yếu tố gì? Bài viết này bàn về sơ bộ thể ngộ trong học luyện.

Trầm kình, tức kình tùng trầm, hạ án, toàn thân nơi nơi “phóng hạ” – buông xuống, tâm an thể thư. Chỉ khi có thể trầm, mới có thể đề, mới có thể tụ. Trầm kình là biểu hiện chủ yếu của nội kình với cơ sở công lực, loại nội kình này không phải từ đùi hướng xuống, mà là loại nội kình có tính thay đổi tại tâm ý dẫn lĩnh, từ eo và cột sống, từ đan điền kinh qua đùi thẳng tới chân.

Trầm kình có đặc điểm:

1. Trầm kình là nội lực, nội kình, tùy nội khí mà sinh.

2. Trầm kình không phải loại kình cương chuyết, cứng nhắc, xuẩn bổn.

3. Trầm kình thùy trực tới mặt đất, có tính tùng nhu, trầm ổn, hài hòa tự nhiên và linh hoạt.

4. Trầm kìnhcó nguồn gốc từ toàn thân phối hợp nhất trí và tiết tiết quán xuyến.

5. Phương hướng của trầm kình là 03 cổ nội kình treo rơi thẳng, loa toàn hướng xuống dưới.

03 cổ nội kình:

  • Theo tích bối, từ kình nguyên điểm dọc mặt trong cột sống hướng xuống dưới, thẩm thấu tới xương ngón chân;
  • Nội khí kinh đan điền, hội âm và mặt trong đùi thẩm thấu hướng dũng tuyền;
  • Theo ống tủy, qua xương hông, xương đùi, đầu gối thẩm thấu hướng cốt tủy gót chân.

6. Trầm kình có thởi kì tích súc và phát phóng có tính đàn hồi, đạn tính đại tiểu và tốc độ quyết định ô tích súc đại tiểu và thần kinh linh mẫn trình độ.

7. Thu súc và phát phóng của trầm kình do kinh lạc vận hành dẫn lĩnh.

Từ những đặc điểm trên có thể thấy, luyện trầm kình là nguyên tắc trọng yếu và phương pháp chủ yếu trong huấn luyện Thái cực quyền, nó quyết định thành bại, được mất trong luyện tập Thái cực quyền.

Huấn luyện trầm kình, cần tuân theo yếu lĩnh cơ bản của Thái cực quyền, như lập thân trung chính, cảnh thụ đầu huyền, chu thân khinh lợi, hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu, viên đang khai khoa, tháp yêu lưu đồn, tùng oản trì hõa… Trong đó huấn luyện trầm kình tối trọng yếu là chu thân khinh lợi (khinh linh) và tâm địa thanh tĩnh.

Phương pháp huấn luyện trầm kình:

1. Đơn thức huấn luyện. Tại mỗi cái phổ thông đơn thức huấn luyện trung, đều cần huấn luyện yếu tố lạc thực trầm kình, thể hiện đặc điểm trầm kình. Đối với người chưa nắm vững trầm, trước tiên chưa cần huấn luyện trầm kình trong toàn sáo lộ, mà nên chọn đơn thức có tính đại biểu để tiến hành huấn luyện, dĩ điểm đái diện, từ đơn thức tối giản tiện bắt đầu luyện tập, để cầu lạc thực và thể ngộ.

Ví dụ Khởi thức, dù ngoại hình của Khởi thức của các môn các phái Thái cực quyền có khác nhau, nhưng về yếu cầu tâm, ý, tinh, khí, thần không sai biệt lớn, luyện xuất trầm kình là đại đồng tiểu dị. Trong động tác 02 tay lên xuống có vẻ giản đơn, có thể thể hội tùng nhu trầm ổn, tuân kinh tẩu mạch, kình lực hướng hạ, trong luyện tập lặp lại nhiều lần, hoãn mạn, thú trầm kình tự sinh.

2. Đơn thức huấn luyện luyện thành trầm kình, cần luyện kĩ lưỡng. Đơn thức huấn luyện có cơ bản rồi, tiếp theo trong chỉnh thể sáo lộ diễn luyện tiến hành khuếch triển và thâm hóa. Tại khuếch triển và thâm hóa sẽ phát hiện rất nhiều vấn đề và mâu thuẫn cần giải quyết, như động tác khai hợp khởi thủy, vận hành, kết thúc, chuyển hoán, hô hấp thâm, vân, hoãn, tế, trường tự nhiên phối hợp với thủ, nhãn, thân, thối, yêu  các pháp phối hợp hiệp điệu, tâm, ý, tinh, khí, thần; phân công và hợp tác, họa hồ tẩu khuyên thái cực viên khuyên hư thực chuyển hoán…, kinh qua thời gian tương đối dài nghiên luyện, trầm kình mỗi chiêu thức đều đạt được.

3. Chú ý các loại huấn luyện trầm kình, trước tiên cần luyện tốt trầm kình trong cung tiễn bộ. Cung tiễn bộ là bộ hình phổ biến trong Thái cực quyền, trầm kình thể hiện tại cung tiễn bộ, biểu hiện tại kình lực tự nhiên hạ trầm tùng nhu, thống nhất thể nội khai đang tùng khoa, đem cung tiễn bộ trực lực hướng hạ trầm, từng bước luyện tập lưỡng cước xuất đạn tính lực.

4. Nhãn thần thông thần. Thường nói: Bế mục dưỡng thần. Tại nhất bàn dưỡng sinh Thái cực quyền vận quyền trung, nhãn tình dĩ bán bế hoặc toàn bế vi chủ yếu hình thức. Nhưng bế mục hậu nhãn cầu tĩnh phi bất động, là tự nhiên tùy thủ tí vận chuyển nhi vận chuyển. Luyện quyền trung kị hoành mi nộ mục, tức sử tranh nhãn thời mục quang khai hợp trung rất tùng nhu, tự thủy chí chung xử ô \”Dưỡng mục \” trạng vi giai. Hữu nhân đảm tâm bế mục hội ảnh hưởng phát kình, kỳ thực phát kình thời tranh nhãn tất định mục quang nữ khẩu điện, phân ngoại tinh thần. Nhi thả bế mục thời, khả dĩ nhượng \”Đệ tam chỉ nhãn \” — ấn đường huyệt phát huy tác dụng, nhượng kỳ tại nội là trung khai phát tiềm năng.

5. Khi huấn luyện trầm kình cần chú ý khắc phục 02 loại tệ đoan. Song trọng thiên trầm, bất phân hư thực; cường áp ngạnh lực hoặc cường đặng, áp ngạnh lực cầu trầm khuyết phạp tự nhiên tính, miễn cường gia đặng lực cũng không thể trầm. Phương pháp khắc phục tệ bệnh này, là kết hợp trầm kình thể hiện tại khinh linh tính và hồn viên tính.

6. Trong tĩnh định sinh tuệ luyện trầm kình. Thái cực quyền chiêu thức chẳng qua là động tĩnh chuyển hoán. Động yếu trong hoãn mạn thể ngộ tĩnh, tĩnh yếu tại tĩnh trung hồi phục động, tĩnh thái và động thái hỗ biến hỗ hàm. Tĩnh trung bình hành, động trung mạo tự bất bình hành, thực tế thì bình hành hồi phục về tĩnh. Tĩnh trung tất sinh định, định trung tất sinh tuệ, sinh tuệ kình lực tùng trầm mới có thể hướng tầng thứ tương đối cao, tức tầng thứ không tự giác.

Trầm kình có tầng thứ tương đối cao là hệ thống thần kinh được hoạt hóa, linh mẫn hóa, là kinh lạc vận hành sướng tốc, là huyệt vị (hoặc gọi là minh điểm) linh tính hóa. Nhân thể thân tâm chỉ có tại hệ thống thần kinh linh mẫn, tại hệ thống kinh lạc và huyệt vị linh tính mới có thể đạt được hiệu quả điều dưỡng và bảo hộ tốt nhất, trong trạng thái này, một số bệnh mạn tính không trị mà khỏi, mà tinh thần càng luyện càng vượng thịnh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *