fbpx

Trương Tam Phong – Thái Cực Quyền luận

Thái Cực Quyền luận

Tác giả: Trương Tam Phong

Sưu tầm và biên dịch: Mr. Nguyễn Hoàng Quân

Nhất cử động chu thân câu yếu khinh linh, vưu tu quán xuyến. Khí nghi cổ đãng, thần nghi nội liễm. Vô sử hữu khuyết hãm xứ, vô sử hữu đột ao xứ, vô sử hữu đoạn tục xứ, kì căn tại cước, phát ư thối, chủ tể ư yêu, hình ư thủ chỉ, do cước nhi thối nhi yêu, tổng tu hoàn chỉnh nhất khí. Hướng tiền thối hậu, nãi năng đắc cơ đắc thế. Hữu bất đắc cơ đắc thế xứ, thân tiện tán loạn, kì bệnh tất ư yêu thối cầu chi. Thượng hạ tiền hậu tá hữu giai nhiên, phàm thử giai thị ý, bất tại ngoại diện, hữu thượng tức hữu hạ, hữu tiền tức hữu hậu, hữu tả tức hữu hữu, như ý yếu hướng thượng tức ngụ hạ ý. Nhạ tương vật hiên khởi nhi gia dĩ tỏa chi chi ý, tư kì căn tự đoạn. Nãi khôi chi tốc nhi vô nghi. Hư thực nghi phân thanh sở, nhất xứ hữu nhất xứ hư thực, xứ xứ tổng thử nhất hư thực, chu thân tiết tiết quán xuyến, vô lệnh ti hào gián đoạn nhĩ. Trường quyền giả, như Trường giang đại hải thao thao bất tuyệt dã! bằng, lý, tê, án, thái,  liệt, chỏ, kháo. Thử bát quái dã. Tiến bộ, thối bộ, tả cố, hữu phán, trung định. Thử ngũ hành dã. Bằng, lý, tê, án. Tức càn, khôn, khảm, ly tứ chính phương dã. Thái, liệt, chỏ, chỏ, kháo. Tức tốn, chấn, đoái, cấn tứ tà giác dã. Tiến, thoái, cố, phán, định. Tức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ dã. Hiệp chi tắc vi thập tam thế dã.

Dịch nghĩa và luận giải  Thái Cực Quyền luận

  1. “Nhất cử động, chu thân câu yếu khinh linh, vưu tu quán xuyến”.

Dịch nghĩa:

Mỗi cử động, toàn thân cần khinh linh, càng cần quán xuyến.

Luận giải:

Khinh linh là linh hồn của Thái Cực Quyền. Khi luyện quyền không được dùng chuyết lực, tức sức lực cơ bắp cục bộ, nặng nề, thì toàn thân tự nhiên khinh linh. Quán xuyến là dùng tâm ý quán xuyến vận động của toàn thân xuyên suốt, liên miên không ngừng, không đứt đoạn. Có thể nhất khí quán xuyến thì thượng hạ sẽ tương tùy, tức trên dưới theo nhau, thế quyền không bị đứt nối. Không quán xuyến thì dễ đứt đoạn, do đó khí lực không liên tục, đồng thời dễ bị đối phương lợi dụng.

  • “Khí nghi cổ đãng、thần nghi nội liễm,vô sử hữu khuyết hãm xứ、vô sử hữu đột ao xứ、vô sử hữu đoạn tục xứ”.

Dịch nghĩa:

Khí cần cổ đãng, tinh thần cần nội liễm, không có chỗ khuyết hãm, không có chỗ lồi lõm, không có chỗ đứt nối.

Luận giải:

Khí cổ đãng thì không gián đoạn, thần nội liễm thì không tán loạn. Cổ là cái trống, đãng là âm thanh. Trống diễn tấu, âm thanh truyền đi. Cổ là hòn đá ném xuống nước, đãng là sóng nước. Liễm là từ xung quanh thu về trung tâm. Thần nội liễm thì phản thị, nội thính, cảm nhận bên trong cơ thể. Có chỗ lồi, lõm, đứt, nối là chưa viên mãn. Chỗ lồi lõm dễ bị đối phương khống chế; chỗ đứt nối dễ bị đối phương lợi dụng. Đó là lý do bị thất bại. Từ trong ra ngoài là đặc điểm đầu tiên của Thái Cực Quyền.

  • “Kì căn tại cước, phát ư thối, chủ tể ư yêu, hình ư thủ chỉ, do cước nhi thối nhi yêu, tổng tu hoàn chỉnh nhất khí”

Dịch nghĩa:

Gốc tại bàn chân, phát tại đùi, chủ tể ở eo, hình ở ngón tay, từ bàn chân, đến đùi, đến eo, cần hoàn chỉnh nhất khí

Luận giải:

Trang Tử viết: “Thánh nhân thở xuống tận gót chân”. Hô hấp trong Thái Cực Quyền rất sâu, dài, trên lên đến đỉnh, dưới xuống tận gót chân. Hô hấp thông linh, nội ngoại giao hòa. Gốc của biến động tại bàn chân, từ chân mà lên đùi, rồi đến eo, từ eo, qua cột sống mà truyền đến ngón tay, hoàn chỉnh nhất khí. Bởi vậy, lực phát ra có gốc từ bàn chân, không phải từ tay. Bên trên tay thì khinh linh, bên dưới chân thì trầm vững, ở giữa eo thì no đủ, không đâu không tương ứng, tự nhiên đạt được “đắc cơ đắc thế”.  Từ dưới lên trên là đặc điểm thứ hai của Thái Cực Quyền.

  • “Hữu bất đắc cơ đắc thế xứ, thân tiện tán loạn. Kì bệnh tất ư yêu thối cầu chi. Thượng hạ tiền hậu tá hữu giai nhiên. Phàm thử giai thị ý, bất tại ngoại diện, hữu thượng tức hữu hạ, hữu tiền tức hữu hậu, hữu tả tức hữu hữu, như ý yếu hướng thượng tức ngụ hạ ý, nhược tương vật hiên khởi tức gia dĩ tỏa chi chi ý: tư kì căn tự đoạn, nãi khôi chi tốc nhi vô nghi”.

Dịch nghĩa:

Nếu có chỗ không đắc cơ đắc thể, thân thể sẽ tán loạn. Bệnh này cần tìm ở eo đùi. Trên dưới, trước sau đều như vậy. Những cái đó là do ý, không phải do bên ngoài, có trên thì có dưới, có trước thì có sau, có trái thì có phải, như ý muốn lên trên thì cần có ý ở dưới, như muốn nhấc vật lên thì cần có ý ấn xuống, làm cho vật tự đứt gốc, không nghi ngờ gì đó là cách hiệu quả nhất

Luận giải:

Không đắc cơ đắc thế, tất do tay động mà eo đùi không động. Eo đùi không động, tay càng có lực thì thân càng tán loạn. Do đó, nếu có chỗ không đạt lực, thì cần lưu tâm tới eo đùi. Muốn chuyển động lên hay xuống, tiến hay lùi, quay trái hay phải, đều cần vận động eo đùi, luyện tập lâu ngày sẽ được như ý. Tuy động eo đùi, nhưng bên trong có ý hiểu mình biết người, tùy cơ ứng biến. Nếu vô ý, dù động eo đùi thì cũng chỉ là loạn động mà thôi. Bệnh ở ngoại hình mà gốc thì ở ý bên trong, do đó Thái Cực Quyền không tại hình thức mà tại khí thế, ý không chuyên nhất thì thần không tụ liễm, chú ý cái này thì mất cái khác. Khi cùng người giao thủ, có thể Âm Dương tương tế, tùy cơ ứng biến không ngừng, làm cho đối phương không lường được, chú ý chỗ này thì không để ý được chỗ khác, nên bị tán loạn, khi đó ta có thể phát kình.  Khi phát kình, cần lay động đối phương, làm đối phương như cây bị mất gốc, chân đứng không vững, có lực mà không dùng được, thì tự nhiên bị bại.

  • “Hư thực nghi phân thanh sở, nhất xứ hữu nhất xứ hư thực, xứ xứ tổng thử nhất hư thực. Chu thân tiết tiết quán xuyến, vô lệnh ti hào gián đoạn nhĩ.”

Dịch nghĩa:

Hư thực cần phân rõ ràng, mỗi chỗ đều có hư thực, toàn bộ lại có hư thực. Toàn thân “tiết tiết quán xuyến”, không chút gián đoạn nào.

Luận giải:

Khi luyện quyền cũng như khi cùng người giao thủ đều cần phân hư thực. Tuy phân hư thực, nhưng nhìn tổng quát thì do ý mà định, người thực ta hư, người hư ta thực, thực hốt biến thành hư, hư chợt biến thành thực. Người không biết ta, ta có thể biết người. Toàn thân “tiết tiết quán xuyến”,  hai chữ “tiết tiết” nghĩa là các bộ phận cơ khớp, đều cần tan thành hư không. Nếu có thể biến thành hư không thì mọi chỗ đều không có ràng buộc. Do đó, đối phương không thể dẫn động được ta, ta vững như núi Thái sơn. Tuy tan thành hư không nhưng khi vận dụng thì lại có thể “tiết tiết quán xuyến”, không có gì không liên quan. Như con rắn lớn, đánh đầu thì đuôi ứng, đánh đuôi thì đầu ứng, đánh vào giữa thì đầu đuôi cùng ứng. Như vậy về sau có thể khinh linh. Ví dụ cây côn sắt nặng nghìn cân, dùng sức mạnh có thể nâng được, nhưng dây xích nặng trăm cân thì dù có sức mạnh cũng không nâng được, bởi dây xích tuy chia thành nhiều mắt xích, nhưng lại quán xuyến với nhau. Luyện Thái Cực Quyền  giống như ý này. Từ hư mà thành thực, trong không sinh có là đặc điểm thứ ba của Thái Cực Quyền.

  • “Trường quyền giả, như Trường giang đại hải thao thao bất tuyệt dã. Bằng, lý, tê, án, thái, liệt, chỏ, kháo, thử Bát quái dã. Tiến bộ, thóai bộ, tả cố, hữu phán, trung định, thử Ngũ hành dã; bằng, lý, tê, án, tức khảm, ly, chấn, đoài tứ chính phương dã。 Thái, liệt, chỏ, kháo, tức càn, khôn,  cấn, tốn tứ tà giác dã. Tiến, thoái, cố, phán, định, tức kim, mộc,  thủy, hỏa, thổ dã. Hiệp chi tắc vi “Thập tam thế” dã.”

Dịch nghĩa:

Trường quyền như Trường giang đại hải, liên miên bất tuyệt . Bằng, lý, tê, án, thái, liệt, chỏ, kháo, đó là Bát quái. Tiến bộ, thoái bộ, tả cố, hữu phán, trung định, đó là Ngũ hành; bằng, lý, tê, án, tức khảm, ly, chấn, đòai, là bốn phương chính. Thái, liệt, chỏ, kháo, tức càn, khôn, cấn, tốn là bốn góc chéo. Tiến, thóai, cố, phán, định, tức kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Hợp lại thành mười ba thế, thường gọi là “Thập tam thế “

Luận giải:

Thái Cực Quyền còn có tên là Trường quyền. Họ Dương truyền Thái Cực Quyền và cả Thái cực trường quyền. Tên gọi khác nhau nhưng ý nghĩa thì tương đồng. Nói là Trường quyền, tức là viên (tròn) vậy, viên cũng là trường (dài). Hình tròn không có đầu, hư thực tiếp nhau, tuần hoàn thay đổi lẫn nhau, không có kết thúc, đó gọi là trường. Thái Cực Quyền còn gọi là “Bát môn ngũ bộ Thập tam thức”. Thức là các tư thế của cơ thể và tứ chi, từ trung tâm hướng ra bốn hướng, tám mặt viên chuyển khuếch trương – tức khai, hoặc từ bốn hướng, tám mặt viên chuyển thu về trung tâm – tức hợp. Bát môn là chỉ tám phương vị trong không gian lập thể bốn hướng, tám mặt. Tại một vị trí có một phương thẳng đứng và có tám góc, dùng phù hiệu của Bát quái để chỉ các phương vị đó là nhằm mô tả hai ý nghĩa quan trọng là “đối đãi” và “lưu hành”. Tám phương vị “đối đãi” từng cặp có vị trí đối xứng, phương hướng ngược nhau, biểu thị bốn phương tám mặt đều mở rộng. Trong số học hiện đại, Lạc thư, Cửu cung, Bát quái là bậc ba ma phương, tức bao hàm ý nghĩa no đủ thành hình tròn. “Lưu hành” chỉ thứ tự của các quẻ, dựa vào tuần tự Bát quái tiệm biến theo qui luật Âm dương, bắt đầu từ một góc, theo ba đường cong hình chữ S liên tiếp, có thể đi hết mỗi góc của hình lập phương tám góc. Đem toàn thân tưởng tượng thành thể lập phương, mỗi động tác đều dựa vào hình chữ S để đi đều mỗi phương vị của toàn thân, nhất động vô hữu bất động, mà toàn thân vẫn giữ được chuyển động an vững trung chính, đều đặn như của con ốc, càng chuyển động càng cảm thấy tĩnh, ta động mà an vững như tĩnh, đối thủ sẽ nhận toàn bộ động lượng của ta mà ngã ra, đó là Bát môn. Từ ý nghĩa của Ngũ hành tương sinh tương khắc trong vận động mà nói, là năm mức lập thể khai hợp, do đó gọi là ngũ bộ. Nếu xuất phát từ trung tâm, hướng trước, sau, trái, phải, tuần tự khuếch trương , ví dụ trước tiên hướng sang trái khuếch đại (người cổ đại cho rằng trung tâm là thổ, hướng sang đại biểu cho hướng Tây, hành kim), tiếp theo khuếch đại về phía sau (phương Bắc, hành thủy), tiếp tục sang phải khuếch đại (phương Đông, hành mộc), rối khuếch đại về phía trước (hướng Nam, hành hỏa), tạo thành một vòng khuếch đại theo hình xoắn ốc ngược chiều kim đông hồ: từ trung tâm, sang trái, về sau, sang phải, tới trước tức các hành thổ, kim, thủy, mộc, hỏa tương sinh tương khắc. Ngược lại, nếu từ xung quanh thu về trung tâm cũng theo hình xoắn ốc, ám hợp Ngũ hành sinh khắc. Ý nghĩa của Ngũ hành sinh khắc chuyển đổi khai hợp là hàm nghĩa của sinh số, thành số của các điểm trên Hà đồ. Về mặt lực học, là ứng dụng đòn bẩy vòng tròn, đối phương đi đường thẳng, ta đi đường cong xoắn ốc, mô – men lực của ta dài hơn của người, lại phối hợp với trọng lực toàn thân, tự nhiên có hiệu quả phát lực của ta mạnh mẽ. Toàn thân ta là quả cầu lập thể, trung chính no đủ, lợi dụng ngũ bộ xoắn ốc thu phóng, dẫn đối phương lạc không, gốc tự đứt, ta dùng xoắn ốc khuếch đại, ta vẫn trung chính an thư mà đối phương thì bị ngã văng ra. Âm dương, Bát quái, Ngũ hành có hàm ý rất thâm sâu, Thái Cực Quyền chỉ sử dụng nguyên lý và công dụng trên phương diện nguyên tắc vận động, những nguyên tắc đó phù hợp với lực học trong vật lý hiện đại, không có gì thần bí, chỉ là buông lỏng không dùng lực đánh người, nhu có thể khắc cương, không tự mình trải nghiệm thì khó lòng tin tưởng. Âm dương, Bát quái, Ngũ hành đều là xu thế của vận động tự nhiên, như xu thế vận động toàn thân, tự nhiên trung chính an thư, lỏng không tròn đầy, đối phương đánh tới, ta dùng “Bát môn ngũ bộ Thập tam thức” lập thể bốn phương tám mặt xoắn ốc khuếch đại, thu nhỏ, động gấp thì ứng gấp, động chậm thì tùy chậm, do thế khác biệt, không nghĩ mà tự nhiên phát động, làm đối phương bị rơi vào nghịch thế mà ngã ra. Thập tam thế còn được gọi là Thập tam tổng thế, học Thái Cực Quyền cần dựa vào đó mà luyện quyền, hình do thế xuất, mới là chân chính Thái Cực Quyền.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *