Thiền Quyền Hợp Nhất

禅拳合一 此博文包含图片

Nguồn: http://blog.sina.com.cn/s/blog_c3bd79d60102yhoy.html

Biên dịch: Mr Nguyễn Hoàng Quân

Nhất

Trước khi luận “Thiền quyền hợp nhất”, vậy Thiền là gì?

Thiền tông có câu chuyện nổi tiếng: Thế tôn (đức Phật) tại Linh sơn cầm một cành hoa trước mọi người. Tất cả đều im lặng, duy có Ca Diệp nở nụ cười. Phật liền truyền pháp cho Ca Diếp: “ Ta có chánh pháp nhãn tàng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, là diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, truyền cho Ca Diệp”.

Cho nên “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” đã trở thành một đặc trưng chủ yếu của phái hệ .

Câu chuyện rất đẹp, nhưng nhiều người không hiểu tại đâu – điều tuyệt diệu trong đó, khi mắt của thầy trò giao nhau, mọi lời nói trở thành vô nghĩa…

Kỳ thực trong lịch sử Thiền tông có nhiều câu chuyện để điểm hóa, chẳng qua là hai bên có cùng tần số mà thôi! Hội tại Linh sơn, mọi người và Phật Đà không cùng tần số, chỉ có Ca Diệp cùng tần số với Phật Đà.

Nhị

Nói về tần số, ví như vợ chồng không hợp nhau, có người nói là do không hợp tần số.  Có thể thấy vợ chồng sinh hoạt cùng “ tần số” hay không có thể ảnh hưởng đến chất lượng sinh hoạt của gia đình.

Vấn đề “ tần số” có người có thể hỏi: tần số khác nhau, có thể thống nhất không?

Đúng vậy, vấn đề và cách nhìn nhận, qua nghiên cứu, có khả năng thống nhất. Nhưng nếu hai người có 10 vấn đề, 9 không hợp, chỉ 1 vấn đề thống nhất, thì có thể nói là: phương thức tư duy khác nhau!

Tư duy phương thức cao thấp, người bình thường có lẽ chỉ có ba tầng thứ, người đi lên nữa lại có ba tầng thứ, đi lên nữa lại có tầng thứ ……, có lẽ các vị Phật tổ, Thượng đế, Mohamed… là các nhân vật cùng tầng thứ.

Do đó làm người bình thường, ngoài nỗ lực kiếm tiền, thế gian ồn ào mới là đạo trường lớn nhất, từ đây không ngừng tu chính tầng thứ tư duy của mình, vô luận là phương diện nào. Cho nên nói, người không cùng trình độ tư duy, cuối cùng khó hoàn toàn hợp nhau, điều này không hoàn toàn quan hệ với phương diện vật chất. Đương nhiên, cũng không thể coi thương vật chất có thể mang lại sung sướng…!

Tam

Chẳng qua, nếu muốn bàn về tu luyện trong nhân gian, rốt cuộc vẫn là chỉ phương diện tu luyện tinh thần nhiều hơn. Ví như đại Nho Vương Dương Minh tiên sinh đời Minh đề xuất “tri hành hợp nhất ”, chính là quá trình thành tựu tu luyện của mỗi cá nhân.

Thiền quyền hợp nhất

Về vấn đề “tri hành hợp nhất”, có người cho rằng “tri” khó “hành” dễ, cũng có người cho rằng “hành” khó “tri” dễ. Những người trước có thiên hướng thực tiễn, những người sau có thiên hướng lý luận.

Dương Minh tiên sinh nhấn mạnh sự thống nhất của lý luận và thực tiễn, nhãn cao thủ đê không được, thủ cao nhãn đê đương nhiên cũng không được. Yêu cầu của Dương Minh tiên sinh là nhãn cao thủ cũng cao, cho nên đối với đa số người là rất khó thực hiện, nhưng Dương Minh tiên sinh đã thực hiện được!

Vô luận là “lập công”, “lập ngôn” hay “lập đức” Vương Dương Minh tiên sinh đều thực hiện tốt.

Điều này có lẽ liên quan mật thiết với quá trình tu Thiền của ông ta, trong Vương văn thành công toàn thư quyển chín Gián nghênh Phật sơ, Vương Dương Minh từng nói: “thần diệc thiết thưởng học Phật, tối sở tôn tín, tự vị ngộ đắc kỳ uẩn áo ”.

Thời kì sớm nhất của Vương Dương Minh đối với Nho gia thậm chí có chút trái nghịch, cho rằng “ Nho bất túc học”, trong Truyền tập lục·thượng, ông ta viết: “ngô diệc tự ấu đốc chí nhị thị, tự vị ký hữu sở đắc, vị Nho vi bất túc học.”

Thời thanh thiếu niên của Vương Dương Minh có chú ý Phật và Đạo! Trong Đàn kinh·định tuệ đệ tứ viết: “Định tuệ nhất thể, bất thị nhị” – có lẽ học thuyết “hợp nhất” của Vương Dương Minh thoát thai từ đó.

Trong “tri hành hợp nhất” của Vương Dương Minh, trước khi hình thành tâm học Vương Dương Minh từng mê luyến học thuyết “Cách vật trí tri” của Nho gia.

Tứ

Có thể nói“Cách vật trí tri” trong tư tưởng của Nho gia thuộc về “ hành động”, trong chương đầu của Đại học, có: “Cổ chi dục minh minh đức vu thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm; dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri; trí tri tại cách vật.”

“Bát mục” của Nho gia trong Đại học, hậu nhân gọi “cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có thể thấy Nho gia cho rằng cơ sở của “tu thân, trị quốc, bình thiên” tại “cách vật” và “trí tri”

Chu Hi cho rằng thiên hạ vạn vật đều uẩn hàm đạo lý vô cùng, khi đã thông lý, thì có thể hiểu thiên hạ vạn vật vạn sự, tâm mới có thể không hơn thua, rộng rãi không lo sợ.

Quan điểm của Chu Hi, nhân vật đại biểu Nho gia được công nhận rộng rãi!

Là người ái mộ Chu Hi, Vương Dương Minh không chỉ tín phụng, mà còn thực hành, nên có chuyện “Dương Minh cách trúc”.

Có lẽ Dương Minh tiên sinh quá chấp trước duyên cố. Tóm lại hiệu quả của “Dương Minh cách trúc” không chỉ không rõ, mà trong giai đoạn “cách trúc”, Dương Minh tiên sinh vô luận là kêu gió gọi mưa, vẫn là tình nhật đương không, không ngừng nghỉ, không ăn uống, cuối cùng “trúc lý” không được “cách” (nghiên cứu ra), ngược lại tự mình bị “cách” thành bệnh.

Chưa biết chừng, đến nay Vương Dương Minh tiên sinh là một vật lý học gia vĩ đại!

Bấy giờ Vương Dương Minh dùng một loại phương thức của khoa học vật lý hiện đại để nghiên cứu “cách vật trí tri”, mà Chu Hi tiên sinh hoặc dùng phương thức nhận thức luận của “Đạo” giải thích “cách vật trí tri”.

Có lẽ, đối với vấn đề này, hai người họ không cùng một tần số.

Chẳng qua, Dương Minh tiên sinh không phải là ngưu nhân, không dễ dàng thỏa hiệp với học vấn, với “cách vật trí tri”, “cách” thế nào, Vương Dương Minh một mực hồ nghi, từ đó vấn đề “cách” đi “cách” lại toàn tại đầu não của ông ta.

Sau 19 năm nghi vấn, Vương Dương Minh hốt nhiên tại một nông trường “đốn ngộ”, như sát na đầu Newton ngộ ra quả táo, nên có tên “Nông trường ngộ đạo”.

Ngũ

“Nông trường ngộ đạo” của Vương Dương Minh  cũng có thể nói là đối với điều Chu Hi cho rằng “cách vật trí tri”, tạo thành một loại phủ định và chuyển hóa – do “cách vật” chuyển hóa thành “cách kỷ” và “cách tâm” – cho rằng “Thánh nhân chi đạo, ngô tính tự túc, hướng chi cầu lý vu sự vật giả ngộ dã.”

Vì thế Dương Minh tâm học đột nhiên xuất hiện.

Về thuyết “Thánh nhân chi đạo, ngô tính tự túc”, tại Ngũ tổ Hoằng Nhẫn vi lục tổ Tuệ Năng thuyết Kim cương kinh, giảng “ứng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, Tuệ Năng nhất thời đại ngộ, lại nói: “hà kỳ tự tính bản tự thanh tĩnh, hà kỳ tự tính bản bất sinh diệt, hà kỳ tự tính bản tự cụ túc, hà kỳ tự tính bản vô động dao.”Ngũ tổ viết: “bất thức bản tâm, học pháp vô ích. Nhược ngôn hạ thức tự bản tâm, kiến tự bản tính, tức danh trượng phu, thiên nhân”. Có thể thấy, “ngô tính tự túc” của Vương Dương Minh là học vấn có nguồn gốc.

Thiền quyền hợp nhất

“Vật do tâm chuyển, cảnh do tâm biến” – bấy giờ Vương Dương Minh tựa hồ quay trở về với ngọn nguồn học Thiền học Đạo của ông ta.

Có thể thấy dấu tích Thiền học khắp nơi trong thơ của Vương Dương Minh. Vương Dương Minh viết “nhất khiếu thùy tướng hỗn độn khai, thiên niên dạng tử đạo châu lai; tu tri thái cực nguyên vô cực, thủy tín tâm phi minh kính đài; thủy tín tâm phi minh kính đài, tu tri minh kính diệc trần ai; nhân nhân hữu cái viên khuyên tại, mạc hướng bồ đoàn tọa tử khôi.”

Ý của bào thơ tựa hồ muốn biểu đạt: Đạo có nguyên đầu, thế hữu trần ai, Thiền bất khả tận khô!

Cái gọi là “ly thế quy ẩn”, “khô Thiền tử tọa” như thảo mộc mục nát, theo Vương Thủ Nhân Vương Dương Minh không phải là bản ý của việc học Thiền – mà là: Thiền vi ngã dụng, tri hành hợp nhất, cải tạo nhân tâm, phục vụ đương thế.

Tu Thiền không ngoài tu xuất “bản tâm” và “tự tính”, do bản tâm mà giác ngộ, do giác ngộ mà đạt tới trí tuệ. Dương Minh tiên sinh tại đại ngộ, cải ngọn nguồn, gọi là “trí lương tri” biến thành “vô thiện vô ác tâm chi thể, hữu thiện hữu ác ý chi động, tri thiện tri ác thị lương tri, vi thiện khứ ác thị cách vật.”

Nam Hoài Cẩn tiên sinh cho rằng, Vương Dương Minh tiên sinh dự tiên thiết trí “trí lương tri” làm mục tiêu của người tu, điều này và tự giác phát hiện “bản tâm” có bản chất bất đồng, cho nên đã hoàn toàn thoát ly bản thể Thiền học!

“Trí lương tri” tựa hồ với “nhân chi sơ tính bản thiện” của Mạnh Tử nguyên xuất đồng lý, sai biệt tại quá trình “tự ngã phát hiện”.

Lục

“Tâm học” của Dương Minh tiên sinh đến từ Thiền học, mục đích là cho Nho gia chỗ dụng, nguyên đầu nhân tướng đã thay đổi. Do đó, về sau Nho gia theo ông ta tu thế nào, chỉ e đều không tu vượt qua Dương Minh tiên sinh. Rốt cuộc ông ta đắc là nguyên bản “Cửu âm chân kinh”!

Tạo nghệ Thiền học của Vương Dương Minh tiên sinh đã nhập hóa cảnh, đương nhiên là đắc ích từ công phu “cách kỷ” – “cách kỷ” kỳ thực chính là “cách tâm”.

Cách tâm khiến Vương Dương Minh có nội tâm cường đại, không cần ngoại cầu “tâm tức lý dã, tâm ngoại vô lý, tâm ngoại vô vật, tâm ngoại vô sự ”.

Đối với điều này, Vương Dương Minh kiêu ngạo lại nội liễm tuyên xưng “thử tâm câu túc, bất giả ngoại cầu”! Chính cái gọi là “bất thị phong động, bất thị phiên động, nhân giả tâm động”, mà “thử tâm bất động, tùy cơ nhi động” Vương Dương Minh đã thành một vị quân sự gia vĩ đại, rất coi trọng “binh vô thường thế, thủy vô thường hình”, “tùy cơ nhi động”, có lẽ là một đời của Vương Dương Minh tiên sinh chiến sự vô số, từ duyên do thất bại chăng. Có thể thấy, Thiền học hoàn toàn có thể làm chỉ đạo thực tế, mà sự vận dụng quan trọng tại khai ngộ.

Thiền quyền hợp nhất

Thất

Các pháp khai ngộ, quan kiện tại công phu “cách kỷ” – nghiên cứu bản thân, từ “cách kỷ” tái chuyển nhập “cách tâm” –  nghiên cứu nhân tâm.

“Cách kỷ” thế nào? Dương Minh tiên sinh giảng “tri hành hợp nhất”. Có người cho rằng Dương Minh tiên sinh “tri hành hợp nhất”, kỳ thực là “tri” trong “trí lương tri” trong tâm của ông ta. Nhưng dù lý giải thế nào, cũng vẫn là vấn đề lý luận kết hợp thực tiễn, cũng vẫn là vấn đề học để tới dụng. Điều này, Vương Dương Minh dụng lĩnh ngộ tư tưởng Thiền, kết hợp vận dụng tư tưởng Nho học cùng chỉ đạo thực tế.

Trong các phương pháp,“ thuyết giáo” là loại phương thức đáng ghét nhất, nhưng có biểu hiện hiệu quả.  Do đó, trong lịch sử các cao tăng đại đức đều từng dụng các loại hình thức của “Thiền” như ngôn ngữ câm, công án, uống trà ăn bánh, hình hài phóng lãng u mặc hoạt kê để điểm hóa cho người khác, như vậy hao tổn tâm huyết, chẳng qua cũng chỉ là không dạy mà giáo hóa mà thôi! Như thử, tuy có nhiều người đột nhiên khai ngộ, nhưng cũng có người vẫn ngu dốt bất hóa, đồng thời vẫn còn nhiều người đang trên đường…

Trong tiểu thuyết võ hiệp thường thấy cao thủ được miêu tả là “ nhân kiếm hợp nhất ”, mà có thể đạt tới “nhân kiếm hợp nhất” không phải là tất cả các cao thủ.

Có thể thấy “ hợp nhất ” là khái niệm vô cùng trọng yếu!

Nếu cố ý “hợp nhất”, e là có lúc không dễ “hợp nhất”. Ví như sử dụng đũa , nếu không suy nghĩ mà gắp thức ăn, động tác rất thoải mái, nhưng nếu nghĩ tới sự phối hợp giữa các ngón tay cái, ngón chỏ, ngón giữa, và các ngón khác thì không dễ gắp thức ăn. Cho nên nói cao độ “ hợp nhất” phải là trạng thái tiềm ý thức hoặc vô ý thức!

Bát

Về vấn đề khai phát trạng thái tiềm ý thức hoặc vô ý thức, tốt nhất con người cần có trạng thái “tĩnh” –  chính là “ tĩnh năng sinh tuệ”, “tuệ” sản sinh “ngộ”.

Đương nhiên, có hoàn cảnh “tĩnh” cố nhiên tốt nhất. Nhưng bản chất vẫn là cần “tâm” có thể tĩnh.

Có rất nhiều phương pháp tu tâm như tĩnh tọa, thư pháp…

Nói về tĩnh tọa. Không cần nói các loại như đả thông Nhâm Đốc nhị mạch, đại tiểu chu thiên, càng không cần nói loại muốn “tề thiên thọ”…, chính là muốn triệt để tĩnh lại là vấn đề không nhỏ.

Rốt cuộc có bao nhiêu người luyện tĩnh tọa đả thông được Nhâm Đốc nhị mạch, chỉ có trời biết. Chẳng qua, không nghi ngờ gì luyện tĩnh tọa là phương pháp bảo dưỡng tâm tạng vô cùng tốt. Thử tưởng tượng: Khi xếp hai chân, các bộ phận của toàn thân đều không xa tâm tạng, do đó tâm tạng làm việc ít nhất.

Theo truyền thống khí công, tổng kết là không ngoài “điều thân, điều tâm, điều tức ”, nhưng vô luận thế nào đều cần lấy “tĩnh” làm tiền đề! Tôi cho rằng phương thức tốt nhất để tĩnh chính là “ dĩ nhất niệm đái vạn niệm”

“Dĩ nhất niệm đái vạn niệm” khiến tâm tĩnh lại, tập luyện thư pháp cũng là phương pháp không tồi, dĩ thủ khống bút, dĩ bút trám mặc, hoặc lâm chi vu thiếp, hoặc thần du chỉ gian, thời gian tại bất tri bất giác trung lưu sướng ……

Vương Dương Minh có thể tri hành hợp nhất, ngộ Thiền đắc pháp, nhưng phương diện cống hiến thư pháp đối với phương diện học thuật, chỉ sợ chỉ có tự ông ta biết. Vương Dương Minh tiên sinh nói với  đệ tử: “mỗi khi cầm bút lên viết chữ, không dễ dãi đặt bút, tĩnh tâm tư khảo rồi viết, lâu ngayfsex có phép tắc viết chữ”.

Thiền quyền hợp nhất

Điều không thể phủ nhận là, tài nghệ thư pháp của Vương Dương Minh tiên sinh, như Từ Vị đời Minh cho rằng “danh khí của Vương Dương Minh che mờ thành tựu thư pháp của mọi người”, Vương Dương Minh xứng đáng là nhất đại thư pháp đại gia!

Cửu

“Cách kỷ” chính là tự thân thể nghiệm.

Vương Dương Minh tiên sinh từng nói thư pháp của ông ta thành chính là vì: “mỗi khi cầm bút lên viết chữ, không tùy tiện hạ bút xuống giấy, tĩnh tâm tư khảo rồi viết”, dối ai?

Mỗi lần trước khi đề bút tiền, trước tiên nghĩ tới chữ của Vương Hi Chi, sau nghĩ tới chữ của Trương Húc, không thành thư pháp gia? !


Hoặc bạn nói chuyện với một nhà đầu tư cổ phiếu kỳ cựu, bạn bày tỏ đề nghị chân thành: “Thắng thì chạy!” Rõ ràng bạn sẽ thua! Ngay khi nghe, đã  biết rằng bạn chưa từng đầu cơ vào cổ phiếu. Đừng dễ dàng nghĩ rằng IQ của bạn cao hơn những người khác!

Đương nhiên, nghĩ về học vấn và đạo đức  của Vương Dương Minh tiên sinh, cho dù không tốt, cũng không đến mức lừa mọi người…

Kỳ thực tổ tông chúng ta đã giảng rõ ràng: “đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh ……”

Hoàn hữu, chính là một số lão hòa thượng, đạo lý tốt không nói, toàn những chuyện như uống trà ăn bánh?

Trà cay ngọt nhạt đắng?

Bánh ăn ngon không? Hay dầu mỡ…?

Rốt cuộc người khác không thay bạn ăn được!

Rốt cuộc, phương pháp hữu hiêu nhất để khai ngộ vẫn là thân thể lực hành. Trong thư pháp tầng cuối cùng mới là “luyện tâm ”.  Mà cổ phiếu, cuối cùng không phải là vấn đề kỹ thuật, vẫn là vấn đề của “tâm”, là vấn đề thu phóng “tham sân si” thế nào.

Thập

Tư tưởng triết học của Vương Dương Minh tiên sinh không chỉ là bao phủ thư pháp của ông ta, mà còn bao trùm những gì? Ví như nói “võ công”, thành tựu quân sự gọi là “võ công hiển hách ”, Vương Dương Minh tiên sinh mang binh đánh trận đều có con mắt nhìn vào.

Nhưng đối với tu dưỡng võ công, lịch sử học gia chỉ giảng một việc:

Vương Dương Minh khi làm Giang tây tuần phủ, sau khi bình định Ninh vương bọa loạn, gặp quân đồn trú Giang tây, tại Bắc phương đánh quân Tac-ta kiêu binh hãn tướng, xưa nay hoành hành ngang dọc, phát sinh mâu thuẫn với quân của Vương Dương Minh. Vương Dương Minh tại thao trường bắn 03 mũi tên trúng đích,… , nhiếp phục bắc quân!

Cho nên nói một người hình thành học vấn, là nhiều loại học thức dưỡng thành.

Về vấn đề Vương Dương Minh võ học, sử liệu ghi chép không nhiều, tư tưởng Thiền học Vương Dương Minh rốt cuộc liên quan tới võ học thế nào cũng không luận, nhưng võ học bản thân chính là công phu “cách kỷ” và “cách tâm”, hoặc có thể nói là một khóa “Thiền” tốt nhất.

Đối với khai ngộ trạng thái tiềm ý thức hoặc vô ý thức, quyền học là một phương pháp tốt nhất!

Thập nhất

Quyền học luyện đến cảnh giới tối cao là: Vô trụ, vô niệm, vô tướng.

Chính là hành vi Tiềm ý thức!

Cái gọi là “hữu hình hữu ý đều thị giả, kỹ đáo vô tâm thủy kiến kỳ ”, “giao dũng giả, bất khả tư ngộ, tư ngộ giả thốn bộ nan hành ”.

Vô luận “cách kỷ” hay là “cách tâm”, luyện quyền đều là lập thể, nhãn nhĩ tị thiệt thân ý – có thể nói là mọi thứ cần đủ! Chẳng qua, bên trong có nhiều thứ bất đồng, tá dụng Phật gia thuyết pháp, có thể phân thành: Tục đế và chân đế.

Đắc “tục đế” đông, đắc “chân đế” ít – phù hợp định luật 80/20.

Theo cách nói của Vương Hương Trai tiên sinh, luyện quyền chính là cần “khứ ngụy tồn chân”. Về phương diện hình thể, Vương Hương Trai cho rằng cần “bất cầu hình hài tự, đan cầu thần ý chân”. Thế tục dạy quyền thông thường coi trọng hình thức, mà coi nhẹ nội tại.

Có câu là “thần vô phương nhi dịch vô thể”. Người luyện quyền thế tục truy cầu đều nhịp, đa số luyện quyền là tương tự, nhưng tâm lý khác nhau. Người đắc chân đế, ngoại hình quyền pháp tuy có sai dị, thể nghiệm nội tâm lại giống nhau!

Ví như mọi người đều luyện tập viết chữ, đều thị tòng hoành phiết thụ nại khai thủy, toàn quốc kỷ thập ức nhân khẩu, hữu nhất cái tả đích tự thị nhất mô nhất dạng đích mạ?

Quyền tốt, thông thường biểu hiện bên ngoài giản đơn, nhưng càng luyện càng sâu, tựa không thấy đáy, thú vị tựa hồ sinh từ vô hình, thì không thể dừng.

Luyện tập thư pháp cũng vậy, hoành phiết thụ nại mà thôi, phương pháp tựa hồ cực giản đơn, nhưng dù dùng tinh lực cả đời cũng khó cùng tận!

Pháp luyện quyền của thế tục, bề ngoài phồn hoa náo nhiệt, nhưng thời gian luyện càng lâu thì vị càng nhạt – đây là khác biệt lớn nhất.

Thập nhị

“Thử tâm bất động, tùy cơ nhi động” là ứng dụng cao nhất trong Thiền học từ tâm học “tri hành hợp nhất” của Dương Minh.

“Thử tâm bất động, tùy cơ nhi động ” không phải một sớm một chiều có thể thực hiện được, cần quá trình lột xác. Ví như Ý quyền, đầu tiên bắt đầu từ trạm trang, sau tẩu bộ, thí lực, thí thanh, phát lực, thôi thủ, đoạn thủ, phối hợp tâm pháp. Trong Kim cương kinh “vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng ”, cuối cùng đạt đáo giai đoạn “bất kỳ nhiên nhi nhiên, mạc chi chí nhi tri ”, Đến giai đoạn này là dựa vào tích lũy lúc trước, trạng thái ứng địch dựa vào tiền đề công lực bản thân để duy bảo trì “như như bất động”, “ thử tâm bất động, tùy cơ nhi động ”.

Thiền quyền hợp nhất

Trạm trang là hạch tâm huấn luyện của Ý quyền, mục đích là khiến đả khai cốt tiết, phóng tùng thần kinh bách hài, tạo nên sức mạnh nội tại. Sau đó tiếp tục huấn luyện, như tẩu bộ, thí lực… đều là loại trừ thói quen dụng lực, hóa lực vi kình, bồi dưỡng chỉnh thể dụng kình, dụ phát sức đàn tính, đạt đến sức mạnh chỉnh thể của “nhất động vô hữu bất động, nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh”, “chu thân vô điểm bất đạn hoàng, khiên nhất phát nhi động toàn thân”! Quá trình huấn luyện đó là quá trình “pháp, phi pháp, phi phi pháp”.

“Pháp, phi pháp, phi phi pháp ” có thể thông với thuyết pháp “quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc ” của 《Kim cương kinh》. Trước đây, sức mạnh của thân thể là man cương, lúc này là tùng hoạt; trước đây, tuệ căn của người tu hỗn độn, lúc này độc cụ tuệ nhãn, ngày nào đó tiến thêm một tầng ……, nhưng mọi thứ cũng chẳng qua là như thuyền qua sông (quá hà chi chu), qua sông rồi thì có thể bỏ thuyền; lúc này nên trừ bỏ pháp hữu vi, nội tâm cần không còn “bè” hay “thuyền”, chính là “nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ứng tác như thị quan”. Cuối cùngg tu đắc thực tướng vô tướng, viên thông vô ngại –  “Thiền quyền hợp nhất”. Thơ viết:

Quyền bản vô pháp  hữu pháp cũng không

Nhất pháp bất lập  vô pháp bất dung

Thiền quyền hợp nhất

Thiền quyền hợp nhất

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *