Sơ lược về cơ lý kiện thân trị bệnh của Thái cực quyền

Sưu tầm và biên dịch: Mr Nguyễn Hoàng Quân

Tóm tắt: Thái cực quyền là di sản văn hóa truyền thống Trung quốc, có giá trị cao trong khoa học nghiên cứu bí ẩn về con người. Lý luận của Thái cực quyền cùng với “Chu dịch” hàng đầu trong “Ngũ kinh”, học thuyết âm dương của Đạo gia, lý luận cơ sở của Trung y có mối quan hệ mật thiết, Thái cực quyền thực chất là vận động điều tiết cân bằng âm dương của cơ thể, đem ngũ phương trong thế giới tự nhiên, ngũ thời, ngũ khí, ngũ hóa cùng ngũ tạng của thân thể, ngũ vị, ngũ chí… dùng cơ chế vận hóa âm dương ngũ hành kết hợp hữu cơ với nhau, lấy ngũ tạng làm chủ thể, thuận ứng ngũ thời, ngũ khí, hình thành hệ thống ngũ công năng của con người và thế giới tự nhiên đối ứng, đạt đến âm dương điều hợp trung hòa, không trị bệnh mà trị bệnh, trị dưỡng kết hợp, lấy dưỡng làm chủ là mục đích trị bệnh kiện thân.

Thái cực quyền là di sản văn hóa quý báu của nước ta, Thái cực quyền tăng cường thể chất, khứ bệnh ích thọ, được đông đảo mọi người hoan nghênh. Cư liễu giải, toàn quốc dĩ hữu kỷ thiên vạn nhân tại luyện tập Thái cực quyền. Mỹ quốc, gia nã đại, úc đại lợi á, đông nam á đẳng các quốc đô xuất hiện Thái cực loại quyền nhiệt, giá trừ liễu Thái cực quyền xác thực thị nhất chủng trị bệnh kiện thân đích thể dục vận động hạng mục chi ngoại, canh chủ yếu thị Thái cực quyền bản thân thị trung quốc truyện thống văn hóa đích di sản, hữu ngận đa trị đắc nghiên cứu đích nhân thể khoa học áo bí, hữu đãi cận đại nhân tiến nhất bộ yết kỳ và tham tác. Bản văn cận dĩ phu thiển đích thể hội, thí đàm Thái cực quyền đích trị bệnh kiện thân ky lý, chỉ ý tại vu phao chuyên dẫn ngọc.

Nhất, quan hệ của Thái cực quyền với “Chu dịch” và học thuyết âm dương của Đạo gia.

“Chu dịch” là một bộ sách triết học cổ của Trung hoa nghiên cứu về quy luật vận động, biến hóa, phát triển của vũ trụ, là tác phẩm khai sơn trong văn hóa truyền thống Trung quốc, được coi là đứng đầu trong “Ngũ kinh”, nó lấy Thái cực làm vũ trụ quan, lấy tượng số lý làm công cụ và phương pháp tư duy, lấy học thuyết âm dương ngũ hành làm hình thức lý luận để quan sát tính thống nhất của vạn vật, biểu đạt nhận thức về thế giới tự thiên. Trong mấy nghìn năm lịch sử, tư tưởng cơ bản của Chu dịch  và vào tố chất tâm lý của dân tộc Trung hoa, thấm thấu vào các lĩnh vực xã hội, khoa học, kỹ thuật cổ đại, như văn địa lý, lịch pháp, nhân sự, y học, vũ thuật, quân sự, kiến trúc và các lĩnh vực khác, cấu thành phong cách cơ bản văn hóa truyền thống của Trung quốc. Thái cực quyền không phải là ngoại lệ, lấy 64 quái của Chu dịch thành lý luận cơ bản của Thái cực quyền.

Cái gọi là Thái cực, Khổng Dĩnh Đạt đời Đường trong《 chu dịch chính nghĩa 》viết: “Vị thiên địa vị phân chi tiền, thiên địa hỗn nhi vi nhất, tức thái sơ, thái nhất dã”. Thực tế là chỉ Vô cực sinh Thái cực. Chính là điều Lão Tử viết “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, vạn vật phụ dương nhi bão dương, trùng khí dĩ vi hòa”. Học thuyết âm dương cổ đại đã sớm đem vạn sự vạn vật trừu tượng hóa thành thuộc tính âm dương, hai hào âm dương tổ hợp thành 64 quái, các hào trong đó đều hàm chứa thuộc tính hai hào âm dương, âm dương lưỡng hào tương hỗ chuyển biến, giao thoa, biến hóa, xung đột, cuối cùng thì giao hòa, “xung khí dĩ vi hòa”, hòa mà sinh tam, tức là “nhị sinh tam”, quái họa do âm dương lưỡng hào mà sinh đệ tam hào, tam hào sinh bát quái, tức tám loại tác dụng tương hỗ của hiện tượng tự nhiên lại tạo thành 64 quái, tượng trưng vạn vật, tức “Tam sinh vạn vật” của Lão Tử,  vạn vật sinh thành luận và thuật sổ của Lão Tử về sự phát triển của vũ trụ là từ thành quái của “Kinh dịch”.

Trình tự, Vô cực với sự gợi ý của lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái diễn ra, cấu thành hình thức cơ bản của Đạo gia về bản thể vũ trụ. Có thể thấy học thuyết Đạo gia của Lão Tử và “Chu dịch” có cùng nguồn gốc. Mà Thái cực quyền thuật là căn cứ “Chu dịch” và lý luận về học thuyết Đạo gia của Lão Tử mà diễn luyện, kinh qua tổng kết và phát triển của các đời quyền sư trong lịch sử, sản sinh ra Thái cực quyền thuật. Về nguồn gốc của Thái cực quyền, Vương Tông Nhạc trong “Thái cực quyền luận” viết: “Thái cực giả, Vô cực nhi sinh, âm dương chi mẫu, động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp” .  Sau khi có “Thái cực quyền luận”, các lưu phái đều coi “Thái cực quyền luận” của Vương Tông Nhạc là kinh điển, như đời Thanh năm Quang Tự thứ nhất Lý Diệc Xa trong “Thái cực quyền tiểu tự” viết: “Thái cực quyền bất tri thủy tự hà nhân? Kỳ tinh vi xảo diệu, Vương Tông Nhạc luận tường thả tẫn hĩ.” Cho đến ngày nay, các sách của các phái đều coi “Thái cực quyền luận” của Vương Tông Nhạc là kinh điển hàng đầu. Có thể thấy Vương Tông Nhạc đối với sự phát dương quang đại Thái cực quyền công lao không thể phai mờ.

Nhị, quan hệ giữa cơ sở lý luận của Thái cực quyền và lý luận của Trung y .

Chúng ta đều biết, Thái cực tạo thành hình thức kết cấu của vũ trụ, hình tượng âm dương, ngũ hành, bát quái… phản ánh quy luật quy luật chung trong tự nhiên của trời đất, bao hàm thế giới quan và nguyên tắc phương pháp luận cực thâm hậu của triết học tự nhiên cổ đại của Trung quốc. Rất nhiều lĩnh vực trong văn hóa truyện thống của Trung quốc thường lấy Thái cực đồ làm nguyên lý đồ giải và tiêu chí. Như dụng Thái cực đồ để biểu thị mô hình lý luận của Trung y là thỏa đáng nhất. Tính tương sinh tương khắc của âm dương ngũ hành trong Trung y , sự thăng giáng tiêu tức của khí cơ biến hóa, quy luật chu kỳ  của hoạt động sinh mệnh cùng với  mô hình sinh lý, bệnh lý, trị liệu v…v… đều có thể dụng Thái cực đồ thức để biểu thị. Trung y căn cứ phương pháp tư duy Thái cực của 《 Nội kinh 》”Nhất âm nhất dương chi vị Đạo, thiên âm thiên dương chi vị tật” , đem trạng thái sinh mệnh của con người phân thành hai loại vị bệnh thái và dĩ bệnh thái, mà vị bệnh thái và dĩ bệnh thái lại lấy thần kinh cảm giác làm tiêu chuẩn phân chia, như vậy, theo nghĩa rộng học thuyết bệnh lý theo mô hình Thái cực do ba bộ phận vị bệnh thái, dĩ bệnh thái và thần kinh cảm cấu thành. Do đó dĩ bệnh thái chính là trạng thái bệnh tật của “Thiên âm thiên dương”, nó rõ ràng có cảm giác thống khổ  ( chứng trạng ) và trạng thái lệch lạc của con người. Cái gọi là vị bệnh thái, chính là phù hợp với trạng thái nhân thể của “Nhất âm nhất dương”, tức trạng thái kiện khang, không có cảm giác thống khổ rõ ràng ( chứng trạng ) của trạng thái cơ thể tương đối cân bằng, tuy ẩn bệnh tiềm tàng trong thân thể, nhưng nó chưa phá hoại sự cân bằng của thân thể, chưa có cảm giác thống khổ ( chứng trạng ), loại hình này thuộc về  phạm vi của vị bệnh thái.

Trong Trung y thư tịch 《 tố vấn ; tứ khí điều thần đại luận 》, tựu đề xuất hai loại trạng thái sinh mệnh của con người; “Thánh nhân bất trị tị bệnh, trị vị bệnh, bất trị tị loạn, trị vị loạn. Cuộc đời con người thường là chuyển hóa tương hỗ giữa tị bệnh và vị bệnh. Đó là tư tưởng công năng bệnh lý học thuyết của con người, trạng thái bệnh lý của con người thông qua phỏng theo tin tức biểu hiện ra, nó bao gồm hai bộ phận tin tức chứng trạng và trạng thái thể chất. Trong chẩn đoạn và trị liệu Trung y, học thuyết âm dương ngũ hành là công cụ tư duy logic và phân loại phỏng theo tin tức.

  Từ phương diện phân tích cơ sở lý luận Trung y, hệ thống học thuật Trung y là  một mô hình Thái cực đối lập thống nhất nội ngoại khí của thân thể, mà trên phương diện phân tích sự phức tạp của thân thể con người về bảo kiện và khống chế bệnh tật, truyền thống Trung y thông qua mô hình Thái cực trị dưỡng kết hợp, chỉ đạo thực tiễn lâm sàng của y sinh. “Trị” chính là điều trị kết hợp tị bệnh (phòng bệnh), “Dưỡng” là tu luyện dưỡng sinh đối với vị bệnh thái (chưa bị bệnh). Trung y tự cổ đến nay có truyền thống trị dưỡng kết hợp, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, kỹ thuật phong phú, như phương dược trị bệnh, châm cứu, xoa bóp, đạo dẫn, tâm lý liệu pháp ám chỉ, thực liệu, âm nhạc, xướng ca, tụng kinh và các liệu pháp khác. Trị vị bệnh có điều thần trữ tâm, dưỡng sinh, vận động, đạo dẫn, thuật dưỡng sinh, vận động Thái cực quyền…, thông qua các loại phương pháp điều lý nhân thể, thích ứng thiên thời biến hóa, làm cho khí của nội ngũ hành trong  thân thể thuận ứng với sự biến hóa của đại tự nhiên, đảm bảo sự đối lập thống nhất, cân đối trung hòa của nội ngoại khí trong thân thể con người.

Trong các dạng vận động trị dưỡng thân thể, Thái cực quyền xác thực có rất nhiều bí mật trị bệnh kiện thân. Vương Tông Nhạc căn cứ vào “Thái cực đồ” làm lý luận viết nên “Thái cực quyền luận”. Dụng triết lý âm dương  trong “Thái cực đồ” giải thích quyền lý, tổng kết trong Thái cực quyền quy luật biện chứng thống nhất đối lập của “Âm bất ly dương, dương bất ly âm”, điều này tương hợp với lý luận dưỡng sinh của Trung y. Quyền lý của Thái cực quyền tuân theo năm tầng thứ của “Thái cực đồ”:

Tầng ý tứ thứ nhất:  là viên hình, ý tứ là “Vô cực nhi Thái cực” chỉ thời khai thủy  của Thái cực quyền, trong lòng ung dung, bao nguyên thủ nhất, khí quy đan điền, âm dương động tĩnh, tiến thối đầy đủ;

Tầng ý tứ thứ hai: trung gian phân thành âm dương, các đắc kỳ trung, dương trung hữu âm, âm trung hữu dương. Ví dụ quyền nhu trung hữu cương, động trung hữu tĩnh, hỗ vi kỳ căn chi ý;

Tầng ý tứ thứ bà: là ngũ hành thuận bố, tiền tiến thuộc hỏa, hậu thối thuộc thủy, tả cố vi mộc, hữu phán thuộc kim, thủ trung vi thổ.

Tầng ý tư thứ tư: thông qua tác dụng thân thể phối hợp đối ứng trung hòa, như trong động tác tiền tiến tất hữu hậu xanh, hướng tả tất tiên hướng hữu, thượng hạ đối lập bạt trường… , trường kỳ luyện tập, trong bất tri bất giác hình thành cảm giác nội khí ngoại phóng, ngoại khí nội thu. Thông qua giao hoán nội ngoại khí, vận dụng khí ngũ phương ngũ hành, điều dưỡng khí của ngũ tạng, như đông phương thuộc thổ dưỡng can, nam phương thuộc hỏa dưỡng tâm, tây phương thuộc kim dưỡng phế. Bắc phương thuộc thủy dưỡng thận, ý thủ trung thổ dưỡng vị. Sự thực, Trung y học hấp thu đầy đủ tư tưởng thiên nhân hợp nhất, đem lý luận trung tâm “Tứ thì ngũ tạng âm dương” vận dụng vào trong nghiên cứu khoa học nhân thể. “Tứ thì ngũ tạng âm dương” là một bộ phận của trung tâm hệ thống lý luận《 nội kinh 》, nó đem ngũ phương, ngũ thì, ngũ khí, ngũ hóa của thế giới tự nhiên với ngũ tạng, ngũ thể, ngũ sắc, ngũ âm, ngũ vị, ngũ chí của nhân thể… dụng lý luận âm dương ngũ hành liên hệ hữu cơ lại, hình thành hệ thống hoạt động đối ứng ngũ công năng giữa con người và tự nhiên, lấy ngũ tạng làm chủ thể, thuận ứng ngũ thời, ngũ khí.

Tầng thứ năm: biểu hiện con người và thế giới tự nhiên dung hợp thành nhất thể. Thiên địa vi nhất đại Thái cực, nhân thân vi nhất tiểu Thái cực, nhân thân xử xử hữu Thái cực, Thái cực chi khí, kỳ đại vô ngoại, kỳ tiểu vô nội, dã tựu thị cổ nhân sở thuyết đích”Thiên nhân hợp nhất” . Do đó, cổ nhân đem vạn sự vạn vật, hiện tượng tự nhiên thiên biến vạn hóa khái quát cao độ, trừu tượng hóa thành Thái cực đồ, dụng để lý giải, lĩnh ngộ và cảm tri ý nghĩa của Thái cực. 

Lý luận cơ sở của Trung y vận dụng quy luật Thái cực âm dương tiêu trường, phát hiện hoạt động sinh mệnh của nhân thể với chu kỳ biến hóa của niên nguyệt nhật thời ( tứ trụ ) có liên hệ nội tại tương ứng tương hợp. 《 Tố hướng nội kinh 》 đề xuất: “Nhân dĩ thiên địa chi khí sinh, tứ thì chi pháp thành”, “Thiên vi dương, địa vi âm, nhật vi dương, nguyệt vi âm, đại tiểu nguyệt tam bách lục thập nhật thành nhất tuế, nhân diệc ứng chi”. “Nhân thân pháp thiên tượng địa, khí huyết doanh hư tiêu tức dữ thiên địa tạo hóa đồng đồ.” Bỉ như nhất niên trung nhân thể dương khí đích tiêu trường dữ tứ quý nhật chiếu khí ôn đích tự nhiên tuần hoàn hữu quan. Phát hiện lớn này càng thêm ấn chứng  Thái cực quyền không chỉ đơn thuần là luyện âm dương tiêu trường của phương vị, đồng thời luyện chỉnh thể âm dương tiêu trường của thời gian và không gian. Vì vậy, đối với việc lý giải Thái cực đồ không thể đơn thuần lý giải trên bình diện dừng tĩnh, mà tuân theo quy luật vũ trụ động thái dương xoay thuận, âm chuyển nghịch trong lập thể viên cầu để lý giải và lĩnh ngộ, điều này đối với người luyện tập Thái cực quyền có tầng thứ thể hội càng cao thâm.

Tam, Thái cực quyền thực chất là vận động điều tiết âm dương quân bình của nhân thể.

Những người luyện Thái cực quyền lâu năm đều có thể hội giống nhau: luyện tập Thái cực quyền trợ giúp cho sự phối hợp cân bằng tư thế thân thể, công năng tâm lý và sinh lý của con người. Luyện công chủ yếu gồm điều tâm (ý thức ), điều tức (luyện tập hô hấp ), điều thân (luyện tập tư thế ) tổ thành. Ba phần có liên hệ tương hỗ, tương hỗ chế ước, tương phụ tương thành. Trong đó điều tâm có tác dụng chủ đạo, ba phần dưới sự khống chế chủ động của ý thức, phát huy tác dụng chỉnh thể công năng.

 Cơ chế luyện công rất phức tạp, đặc biệt là đối với nội khí, đến nay khoa học vẫn chưa giải thích được hoàn chỉnh. Người viết cho rằng nội khí xác thực là tồn tại khách quan, chỉ là sự khác nhau về mức độ mẫn cảm, cảm thụ của con người đối với kinh lạc.

Chỗ lý giải bất đồng. Kỳ thực,  hoạt động sinh mệnh của mỗi cá nhân, không tách rời hoàn cảnh đại tự nhiên và hoàn cảnh xã hội xung quanh, biến động thường ngày của hoàn cảnh đại tự nhiên như hàn nhiệt, thử thấp, hoàn cảnh xã hội như lòng người dễ đổi, nhân tình lãnh nhiệt, xung đột lợi hại là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu chúng ta quan sát kỹ, các chỉ số căn bản của thân thể, như nhiệt độ cơ thể, nhịp đập của mạch, tần suất hô hấp, trạng thái thường ngày tương đối ổn định. Nếu những chỉ tiêu này vượt phạm vi bình thường, thì có thể cơ thể chuyển sang trạng thái có bệnh, nghiêm trọng thì có thể dẫn tới tử vong, loại trạng thái tương đối ổn định, không chỉ là hoạt động sinh mệnh của thân thể dựa vào để thực hiện, mà còn là kết quả của hệ thống tương sinh tương khắc của các khí quan của thân thể tiến hành phản ứng. Ví dụ khi da ra nhiều mồ hôi, lượng bài niệu của thận tạng giảm thiểu, có thể tự động điều tiết trạng thái ổn định, sinh vật học giả gọi là “ổn thái”, trong lý luận Trung y, có “Âm bình dương bí, tinh thần nãi trị, âm dương ly quyết, tinh khí nãi tuyệt”, trong đó “Âm bình dương bí ” trạng thái khắc họa rất rõ ràng chỉ “ổn thái” . Nếu cân bằng này bị vỡ ( âm dương ly quyết ), sinh mệnh khó có thể duy trì (tinh khí nãi tuyệt).

Khi chúng ta tiến một bước quan sát kỹ lưỡng, sẽ thấy, cùng hoàn cảnh thay đổi, con người khác nhau phản ứng không giống nhau. Ví như cùng biến đổi khí hậu, có người không quan tâm, nhiệt độ cơ thể, mạch bác đều bình thường; có người lại không chịu được, thậm chí bị bệnh, nhiệt độ cơ thể, mạch bác đô phát sinh thay đổi. Người bệnh là thanh niên thường hồi phục nhanh, nhiệt độ cơ thể, mạch bác đều khôi phục nguyên thái; mà một số người già như vậy thì qua đời, điều đó cho ta thấy đối với năng lực duy trì trạng thái ổn định, hoặc giả thuyết năng lực thực hiện các loại công năng điều tiết của nhân thể, đạt tới “Ổn thái”, các cơ thể khác nhau thì không giống nhau, vậy thì, có hay không biện pháp gia cường năng lực này? Tổ tiên chúng ta đã kinh qua nhiều năm nghiên cứu, tìm được biện pháp rất tốt, trong đó có vận đông Thái cực quyền, tập hợp đại toàn “Đạo dẫn thổ nột luyện đan”của cổ nhân, là loại phương pháp dưỡng sinh thân tâm kiêm luyện.”Đạo dẫn” có ý tưởng “Đạo khí dẫn thể”, luyện Thái cực quyền lâu dài, có thể làm cho âm dương phối hợp cân bằng, chủ yếu biểu hiện phương diện:

Nhất là: vận động Thái cực quyền là luyện tập trạng thái ổn định của thân thể, tư thế Thái cực quyền yêu cầu “Trạm như tùng, tọa như chung, tẩu như phong”. Do tác dụng của lực hấp dẫn, thông qua trục trọng tâm của trọng tâm thân thể tại một vị trí cân bằng, nếu không con người sẽ ngã, nắm điểm cân bằng càng chắc, thì thể thế càng ổn định, nếu như trục trọng tâm của trọng tâm thân thể vừa vặn giữa hai chân, vô quá bất cập, bất quá tiền, bất quá hậu, bất quá tả, bất quá hữu, thì đứng thẳng như thanh tùng, căn thâm nhập địa, khí thế uy nghiêm. Trong trạng thái tĩnh, khả năng duy trì trạng thái ổn định dễ dàng; nếu tư thế thân thể không ngừng biến động, các bộ phận tổ thành thân thể biến hoán hư thực, các quan tiết loa toàn triền ti giảo chuyển, yêu cầu thủy chung duy trì trạng thái ổn định của thân thể là rất khó, tất cần luyện tập lâu dài mới có thể thực hiện được.

 Nhị, Thái cực quyền là luyện tập trạng thái sinh lý ổn định. Hoạt động sinh lý của con người dễ nhất là hô hấp, cổ nhân chú trọng “Thổ cố nạp tân”, chính là luyện hô hấp nhập vào đường tắt để đạt đến tăng cường trạng thái sinh lý ổn định. Luyện công đến trình độ nhất định, thể thế đạt đến trình độ tốt hơn, lúc này cơ nhục toàn thân đạt tới trạng thái tùng mà bất giải, thúc đẩy huyết dịch tuần hoàn tới đầu ngọn, làm cho việc cung cấp dưỡng chất cho các khí quan tổ chức được đầy đủ. Tình trạng này phản ánh tới trung khu hệ thống thần kinh, dẫn tới trung khu hô hấp giảm hưng phấn, hô hấp tự nhiên chậm đều, sâu. Hô hấp đều nhỏ, sâu chậm giúp cơ hung cách lên xuống, có tiết tấu thăng giáng, tạo thành một loại xoa bóp nội tạng, làm cho ổ bụng hoạt động ở trạng thái tốt nhất. Người luyện công có lúc nghe thấy âm thanh trong bụng hoặc tiêu hóa tốt… cảnh giới này không khó đạt tới.

Trạng thái tốt nhất này gửi thông tin tới hệ thống thần kinh phản ánh tới trung khu thần kinh cao cấp, giải trừ trạng thái khẩn trương của thần kinh trung khu cao cấp là một hiện tương tuần hoàn tốt đẹp, đồng thời hoạt động của nội tạng đạt trạng thái tốt nhất, có tác dụng tốt đối với việc khai thông kinh lạc. Khi luyện công tác giả thường cảm thấy đau như kim châm ở bàn tay do khí xuất ra, đối với khí ngoại giới sản sinh tuần hoàn giao hoán tốt đẹp, đó đều là biểu hiện cụ thể việc thông kinh lạc.

 Tam,  vận động Thái cực quyền là luyện tập trạng thái tâm lý ổn định, đây là khâu trung tâm. Cơ sở vật chất trong hoạt động tâm lý của con người là trung khu thần kinh cao cấp, chủ yếu là đại não. Kết cấu và công năng của đại não là sản vật hàng vạn năm sinh vật tiến hóa, ưu thế tiến hóa của nhân loại, chủ yếu tập trung tại đại não, đại não trong  vận động Thái cực quyền, thông thường dụng thuật ngữ “ý niệm” để biểu đạt. Hoạt động ý niệm và hô hấp, nhịp tim và các quá trình sinh lý có tính chất chung, lại rất khác biệt, điểm chủ yếu là với  tương quan sinh hoạt xã hội. Người luyện công chú trọng ý niệm thuần chính, phẩm đức đoan chính, cần loại bỏ tạp niệm lo lắng được mất, thì ý niệm mới có thể chuyên chú, mới có thể đạt được hiệu quả luyện công chân chính. Thái cực quyền chú trọng “y đáo khí đáo, khí đáo lực đáo”, đó không phải là hư ngôn. Luyện công đến trình độ nhất định dụng ý niệm chuyên chú các bộ vị của thân thể đối phương, dụng khí khả dĩ cảm nhận được tình trạng thân thể của đối phương, chính xác là trình độ chuyên chú ý niệm và phát khí rất nhỏ mà nhi định, có thể thấy khí của thân thể là một loại sức mạnh vật chất thần bí, có nhiều bí mật cần nghiên cứu. Phật Đạo Nho tam giáo đều nhấn mạnh “Tu tâm dưỡng tính”, chú trọng “Hành thiện tích đức”, đó không phải là quan niệm phong kiến mê tín, sự thực khách quan chứng minh “Tâm thiện thiểu tác ác mộng”, nhân đa hành thiện tích đức, tiềm thức luôn ổn định, tốt đẹp, cân bằng, “Bình sinh bất tác khuy tâm sự, bán dạ bất phạ quỷ xao môn” . Nhiều việc cho thấy: hoạt động tâm lý xác thực  ảnh hưởng tới công năng sinh lý, mà công năng sinh lý bình thường hay không  đối với hoạt động tâm lý có thể sản sinh tác dụng rõ ràng. Hoạt động tâm lý ổn định, có thể thông qua hoạt động ý niệm đạt tới tự mình điều tiết, tự mình cân bằng, có thể tránh được sự kích thích tín hiệu ác tính, tăng cường năng lực đề kháng sự phiền nhiễu của hoàn cảnh xung quanh. Yếu lĩnh dưỡng sinh của Trung y có “Điềm đạm hư thực, chân khí tòng chi, tinh thần nội thủ, bệnh an hà lai?” Do đó thường xuyên duy trì trạng thái tâm lý ổn định, tất nhiên sẽ sản sinh hiệu ứng sinh lý tốt đẹp, đó chính là thực chất nội dung “điều tâm” trong vận động Thái cực quyền.

 Tóm lại, con người và thế giới tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất, sự biến đổi của thế giới tự nhiên tất nhiên làm nhân loại phát sinh, phát triển và chuyển hóa bệnh tật. Mà vận động Thái cực quyền là phù hợp với quy luật biến hóa của tự nhiên, phù hợp với sinh lý trong Trung y và nguyên lý thể dục, là phương pháp hữu hiệu trị dưỡng thân thể. Việc điều tiết quân bình âm dương, trị bệnh và kiện thân đạt tác dụng tích cực, có giá trị phát triển để toàn dân luyện tập.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *