MÔ PHỎNG VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC LUYỆN THÁI CỰC

仿效水的运动打太极

Nguồn: Tam phong đường & Thủ Trung học xã

Biên dịch: Mr. Nguyễn Hoàng Quân

  1. Đặc điểm của Thái cực quyền là: Chủ trương bất dụng lực. Dụng trọng lượng và do trọng lượng chuyển hoán thành năng lượng khuếch tán sản sinh giữa trầm phù. Do trọng lượng tự thân dẫn xuất hoặc hiển xuất lực lượng của đối phương, thuận theo lực của đối phương, dụng ý thiên trầm hướng một bên, khiến cho lạc không. Vương Tráng Hoằng tiên sinh dụng một từ “Bạt”. Hình tượng tỉ dụ phương pháp tự trọng lượng khiến dụng, giống như 4 lạng của quả cân có thể nâng được vật thể trọng lượng lớn hơn nó nhiều lần. “Giải thích ý của thái kình thế nào? như cân bằng của cái cân… Chuyển di chỉ 4 lạng, có thể cân bằng được vật nặng 1000 cân” trong “Bát pháp bí quyết” là ý này. Đương nhiên, vận dụng tự trọng lượng không dễ lý giải, còn cần mượn đặc tính của nước để giải thích thêm. Nước chảy chỗ trũng là hiện tượng tự nhiên, là kết quả nước trọng lượng của nước bị ảnh hưởng của lực hấp dẫn của địa tâm, như vậy nước sẽ lưu động, cuộn sóng, tạo xoáy. Nước có đặc tính là có lực nâng, chính như trong “Bát pháp bí quyết”, “Ý của ủng kình giải thích thế nào? như nước nâng thuyền đi… dù anh có 1000 cân lực, nổi trôi cũng không khó”, thuyết minh phù lực; ” Ý của án kình giải thích thế nào? vận dụng như nước chảy… Sóng cuộn có hởi phù, có khe nào không nhập”, thuyết minh sóng cuộn, lưu động; ” Ý của bát kình giải thích thế nào?… Anh chưa thấy xoáy nước, sóng cuộn như hoa tay”, thuyết minh xoáy nước, cho nên tập quyền nhất định cần mô phỏng vận động của nước.
  2. Cần kiến lập tư duy Thái cực. Thái cực quyền yêu cầu người học cải biến phương thức tư duy thông thường, cảnh giới của Thái cực quyền là hữu vô giới “Kiến tướng phi tướng”, là cái không của cái có và cái có của cái không, không phải đơn giả là có và không mà chúng ta quen thuộc, cho nên không thể dụng phương thức tư duy “hữu giới” (giới: ranh giơi, giới hạn, phạm vi…) để nhìn nhận và học tập Thái cực quyền “hữu vô giới”. Theo quan hệ biện chứng âm dương mà nói, thông thường đều giảng âm dương tương phân, âm trung hữu dương, dương trung hữu âm, âm bất ly dương, dương bất ly âm…, kỳ thực giữa âm và dương còn hàm hữu tồn tại một cái “Trung”, nó ẩn mà không hiện, là chân thực tồn tại, là “có của cái không”, giống như từ trường giữa điện cực chính phụ, cho nên có “âm dương” thì có “trung”, hữu “trung” tất hữu “âm dương”.
  3. Xác định rõ Thái cực quyền gồm có tính thực chiến. Học Thái cực không nhằm mục đích đánh người, nhưng tất cần có thể đánh người. Hơn nữa “bất dụng lực đả nhân”. Thái cực quyền không thể đánh người là do công phu của anh chưa tới. Khi nó nhẹ thì như “vi phong tế vũ”, trọng thời như cuồng phong cự lãng, loại uy lực vô hình này người bình thường khó tưởng tượng và lý giải, nó không phải là lực học cơ giới, mà là lực học lưu thể.
  4. Chú trọng học tập văn hóa truyền thống, là phong cách văn nhân tập võ. Mượn lý luận của Nho gia, Dịch kinh, học thuyết âm dương… làm cơ sở lý luận; dụng lý luận của Đạo gia, “Đạo đức kinh”, “Chu dịch tham thông khế”… làm tu luyện pháp môn; tham ngộ tư tưởng của Phật gia, “Kim cương kinh”, “Tâm kinh”, “Đàn kinh”… để nâng cao cảnh giới; học tập Trung y, lí  giải quan hệ nhân thể kết cấu, nhân với thiên địa, tứ quý, nhị thập tứ tiết khí…; quan sát giới tự nhiên, quan sát vũ trụ thiên thể, thể ngộ thiên nhân hợp nhất, biến quá trình học quyền thành nghiên cứu học thuật, cho phép tồn tại ý kiến bất đồng, đồng thời dẫn dụng phương thức giảng giải lý luận dạy học hiện đại, hệ thống, hoàn chỉnh, xuyên suốt, vô cùng dễ dàng lý giải.
  5. Có hệ thống lý luận hoàn chỉnh và nguyên tắc thao tác thực tế, không tầm thường, hiệu quả rõ ràng. Mục đích chỉ có 02: Cải tạo tư tưởng của chúng ta, hình thành tư duy Thái cực. Cải tạo chất lượng thân thể hiện hữu của chúng ta, trừ cương khối, bỏ lực lượng, khứ cố định căn, biến thành cơ thể nhu nhuyễn. Khi bắt đầu, trước tiên khiến học sinh kiến lập tư duy Thái cực, từ lập trường Bát môn Ngũ bộ, Thập tam thế luyện quyền, thượng hạ tiền hậu tả hữu đồng thời vận động, âm dương ngũ hành bát quái đồng thời tồn tại, không ngừng lưu động, biến hóa. Ngoài ra, để học sinh từ vĩ mô lý giải toàn diện Thái cực quyền, trước tiên có nhận thức lý tính, sau đó học tập cụ thể – như vậy sẽ không bị mê thất phương hướng. Trong huấn luyện cụ thể, có rất nhiều nguyên tắc, giúp học sinh lý giải lý luận, chỉ cần thực hiện theo nguyên tắc, thì sẽ sản sinh hiệu quả không ngờ.
  6. Hợp tự nhiên. Thầy nói: “Chúng ta cần học tập tự nhiên. Tự nhiên là là thầy của chúng ta, tôi chỉ là giải thích tự nhiên. Tất cả các vị thầy, cùng triết học Nho Thích Đạo đều là giải thích tự nhiên, ai giải thích tiếp cận nhất với tự nhiên, thì người đó cao minh nhất.” Thái cực quyền sáo lộ là căn cứ lưu động, sóng, xoáy của nước mà biên chế thành. Con người không rời nước, nước không rời người, người dựa vào thế của nước mà động, sáo lộ như thư pháp có thể phân thành khải, hành, thảo, tùy theo nước lớn nhỏ và tốc độ lưu chảy mà có rất nhiều loại đả pháp, không phải là định hình bất biến.
  7. Dung hòa và lớn mạnh. Luyện thành tấm lòng rộng rãi. Thái cực quyền không luyện chiêu thức, không luyện sức mạnh, không cầu tốc độ, không nghĩ đánh đối phương thế nào, không dụng tâm cơ tính toán người khác. Khi thôi thủ, nơi nơi bao dung đối phương, thỏa mãn đối phương, ung dung đại độ, khí thôn sơn hà, dĩ bất biến ứng vạn biến. Anh sinh tâm gì, tôi sinh pháp ấy, tâm diệt tắc pháp diệt, vô pháp trung sinh vạn pháp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *