Đồ giải yếu lĩnh Thái cực quyền khởi thừa khai hợp.

Tác giả: Hác Thiểu Như

Biên dịch: Mr Nguyễn Hoàng Quân

  1. Hàm hung 涵胸: Tim trong ngực, ở trên. Ngực không được đỉnh, cần buông lỏng hướng xuống dưới, hai vai tiền hợp, gọi là hàm hung. Có thể hàm hung, mới có thể “dĩ tâm hành khí”.
  2. Bạt bối 拔背: khoảng giữa hai xương bả vai, như có ý căng lên, hai vai cần linh hoạt, không được cúi đầu, gọi là bạt bối.
  3. Khỏa đang 裹裆: hai đầu gối dụng lực, có ý hướng nội, hai đùi như một, có thể phân hư thật, gọi là khỏa đang.
  4. Hộ truân 护肫: hai sườn hơi liễm, khoái hoạt, gọi là hộ truân.
  5. Đề đỉnh 提顶: đầu cổ chính trực, thân, gọi là đề đỉnh.
  6. Điếu đáng 吊档: hai đùi dụng lực, gọi là điếu đáng. Thế hạ thu tiền hợp, bên trong cảm giác tùng không cao không thấp, thần quán đỉnh, mông tiền tống, bụng dưới có thế thượng phiên;
  7. Tùng kiên 松肩: dùng ý đem hai vai tùng khai, khí hướng hạ trầm, trong ý thêm chữ “tĩnh”, gọi là tùng kiên.
  8. Trầm trửu 沉肘: đầu trửu thường có ý hạ thùy, gọi là trầm trửu. Đằng na: có ý động mà chưa động, tức thế dự động, gọi là đằng na 滕挪.
  9. Vĩ lư chính trung 尾闾正中: hai đùi có lực, mông tiền thu, gốc của cột sống hướng tới trước nâng đan điền lên, gọi là vĩ lư chính trung.
  10. Khí trầm đan điền 气沉丹田: có thể thực hiện vĩ lư chính trung, điếu đang, thì có thể dĩ ý tống khí, đạt tới phúc bộ, hàm hung, hộ truân, tùng kiên, không để nổi lên, gọi là khí trầm đan điền.
  11. Hư thật phân thanh 虚实分清: hư phi hoàn toàn vô lực, thực điểm tiếp đất cần có thế đằng na. Đằng na tức hư cước với ngực có ý tương hấp tương hệ, nếu không sẽ thành thiên trầm. Thật không hoàn toàn chặt cứng, tinh thần quán tại đùi thật, chống đỡ toàn thân, cần có ý thượng đề. Như hư thật bất phân, thì thành song trọng.
  12. Yêu tích liễm khí 腰脊敛气: dùng ý đem khí hạ trầm thiếp tại bối, do hai vai thu vào tích cốt, liễm vào yêu tích, chú vào yêu gian, khiến yêu thành chủ tể, gọi là “yêu tích liễm khí”.
  13. Khố (khoa) tùng trực 胯松直: hai hông không được khuynh tà, dụng lực; dụng ý đem hai hông tùng khai thụ trực, lực, gọi là “khố yếu tùng trực”. Không được nhô ra trái phải, cũng không được khiến khí hướng hạ trầm mà hai chân cong gối; hai đùi cần phân thanh hư thật, không được cứng ngắc, cần “khai trung ngụ hợp, hợp trung ngụ khai”; hình thức của hai đùi không được đạp thẳng, tóm lại chần cần có hình gập cong, gọi là “khuất tất” 屈膝.
  14. Hai tay ý hướng thượng thăng 两手意向上升: là chỉ hai tay “thụ chưởng”, chưởng căn có thế hạ trầm, mà ngón tay có ý bạt trường, mới có thể hành khí tới ngón tay, gọi là “ý hướng thượng thăng” 意向上升.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *